Cách làm bài văn nghị luận văn học và nghị luận xã hội – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (146.74 KB, 16 trang )

CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC VÀ NGHỊ
LUẬN XÃ HỘI
Văn nghị luận là một loại văn phổ biến sử dụng trong nhà trường hiện nay. Văn
nghị luận có tính khoa học, và đòi hỏi tư duy cao nhất nhằm kiểm tra khả năng
phân tích, tổng hợp và tư duy khoa học của học sinh mà vẫn đánh giá được ở
học sinh khả năng diễn đạt và cảm thụ.
Có 2 dạng nghị luận: Nghị luận văn học và nghị luận xã hội.
Trong đó, nghị luận văn học dường như gây khó dễ cho học sinh hơn cả, bởi lẽ
học sinh từ trước tới nay dựa dẫm quen vào văn mẫu, ít có tư duy của riêng
mình, đặc biệt là nghị luận xã hội thì rất phong phú, không bị cố định như NLVH.
Dưới đây là những kiến thức cần thiết cho học sinh về kiểu bài văn nghị luận phổ
biến trong nhà trường: nghị luận văn học và nghị luận xã hội nhằm nâng cao kỹ
năng viết văn của bản thân.
A. NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
1. Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
a. Các dạng bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học và cách lập ý
– Nghị luận về văn học sử
Ví dụ:
Đề 1. Anh (chị) hãy phân tích và làm sáng tỏ mọi đặc điểm cơ bản của văn học
Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954: Chủ yếu được sáng tác theo khuynh hướng sử
thi và cảm hứng lãng mạn.
Đề 2. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai cho rằng: “Nhìn chung văn học Việt Nam
phong phú, đa dạng; nhưng nếu cần xác định một chủ lưu, một dòng chính, quần
thông kim cổ, thì đó là văn học yêu nước” (Dẫn theo Trần Văn Giàu tuyển tập,
NXB Giáo dục, 2010).
Hãy trình bày suy nghĩ của anh (chị) với ý kiến trên (Ngữ văn 12, tập một tr.91).
Nghị luận về văn học sử thường là các ý kiến bàn bạc, nhận định, khái quát
chung về văn học Việt Nam, về các giai đoạn văn học, về các tác giả văn học,…
Để lập ý cho bài văn viết, học sinh cần nắm được các yếu tố về hoàn cảnh lịch
sử của giai đoạn văn học hoặc đặc điểm thời đại và hoàn cảnh sống của tác giả,
lí giải được tại sao có những đặc điểm đó, nêu những biểu hiện của đặc điểm đó

trong các tác phẩm, thấy đóng góp của vấn đề trong tiến trình phát triển của văn
học.
– Nghị luận về lí luận văn học
Ví dụ:
Đề 1. Bàn về truyện ngắn, có người viết: “Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện
ngắn, là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn
ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết” (Từ điển thuật ngữ văn học,
NXB Giáo dục, 1992, tr.253).
Anh (chị) có đồng ý với ý kiến trên?
Đề 2. Bàn về đọc sách, nhất là đọc tác phẩm văn học lớn, người xưa nói: “Tuổi
trẻ đọc sách như nhìn trăng qua cái kẽ, lớn tuổi đọc sách như ngắm trăng ngoài
sân, tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên đài” (Dẫn theo Lâm Ngữ Đường,
sống đẹp, Nguyễn Hiền Lê dịch, NXB Tao đàn, Sài Gòn, 1965).
Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? (Ngữ văn 12, tập một, tr.1965).
Nghị luận về lí luận văn học thường là các ý kiến bàn về những đặc trưng cơ
bản của văn học, các thể loại tiêu biểu như truyện, thơ, kịch,… các vấn đề thuộc
phạm vi lí luận văn học như tiếp nhận văn học, phong cách nghệ thuật,… Để lập
ý cho bài viết, học sinh cần xác định rõ vấn đề nghị luận, bàn đến vấn đề gì,
thuộc phạm vi nào? Tại sao lại nói như thế? Nội dung ấy được biểu hiện như thế
nào qua tác phẩm văn học tiêu biểu?
– Nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học
Ví dụ:
Đề 1. Trong truyện Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi có nêu lên quan
niệm: Chuyện gia đình cũng dài như sông, mỗi thế hệ phải ghi vào một khúc. Rồi
trăm con sông của gia đình lại cùng đổ về một biển, “mà biển thì rộng lắm […],
rộng bằng cả nước ra và ra ngoài cả nước ta”.
Anh (chỉ) có cho rằng, trong thiên truyện của Nguyễn Thi quả đã có một dòng
sông truyền thống liên tục chảy từ những lớp người đi trước: tổ tiên, ông cha,
cho đến lớp người đi sau: Chị em Chiến, Việt (Ngữ văn 12, tập hai, tr.68)
Đề 2. Trong đoạn trích Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng),

Nguyễn Khoa Điềm viết:
Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại
Có thể nói hai câu thơ trên đã thể hiện tập trung những đặc sắc nổi bật về nội
dung và nghệ thuật của đoạn trích. Qua sự phân tích đoạn thơ, anh (chị) hãy làm
sáng tỏ điều đó.
Nghị luận về vấn đề trong tác phẩm văn học: Thường là các ý kiến đánh giá,
nhận xét về một khía cạnh nào đó của tác phẩm như những giá trị nội dung,
những đặc sắc nghệ thuật, những quy luật, khám phá, chiêm nghiệm về đời
sống toát lên từ tác phẩm, những nhận xét về các nhân vật,… Để lập ý, học sinh
cần hiểu kĩ, hiểu sâu về tác phẩm, biết cách huy động kiến thức để làm sáng tỏ
vấn đề. Cụ thể như: nêu xuất xứ của vấn đề (Xuất hiện ở phần nào của tác
phẩm? Ai nói? Nói trong hoàn cảnh nào?,…), phân tích những biểu hiện cụ thể
của vấn đề (Được biểu hiện như thế nào? Những dẫn chứng cụ thể để chứng
minh,…). Từ đó đánh giá ý nghĩa của vấn đề trong việc tạo nên giá trị của tác
phẩm văn học.
b. Cách lập dàn ý
Tùy theo đối tượng và phạm vi các vấn đề được đưa ra bàn bạc mà có thể có
các cách triển khai khác nhau. Tuy vậy, mục đích của bài học vẫn phải là hướng
đến việc rèn luyện các kĩ năng tạo dựng một bài văn bản nghị luận nên nội dung
có thể hết sức phong phú nhưng người viết vẫn phải tuân theo những thao tác
và các bước cơ bản của văn nghị luận. Có thể khái quát mô hình chung để triển
khai bài viết như sau:
• Mở bài:
– Dẫn dắt vấn đề.
– Nêu xuất xứ và trích dẫn ý kiến.
– Giới hạn phạm vi tư liệu.
• Thân bài:
– Giải thích, làm rõ vấn đề:
+ Giải thích, cắt nghĩa các từ, cụm từ có nghĩa khái quát hoặc hàm ẩn trong đề

bài. Để tạo chất văn, gây hứng thú cho người viết, những đề văn thường có
cách diễn đạt ấn tượng, làm lạ hóa những vấn đề quen thuộc. Nhiệm vụ của
người làm bài là phải tường minh, cụ thể hóa những vấn đề ấy để từ đó triển
khai bài viết.
+ Sau khi cắt nghĩa các từ ngữ cần thiết cần phải giải thích, làm rõ nội dung của
vấn đề cần bàn luận. Thường trả lời các câu hỏi: Ý kiến trên đề cập đến vấn đề
gì? Câu nói ất có ý nghĩa như thế nào?
– Bàn bạc, khẳng định vấn đề. Có thể lập luận theo cách sau:
+ Khẳng định ý kiến đó đúng hay sai? Mức độ đúng sai như thế nào?
+ Lí giải tại sao lại nhận xét như thế? Căn cứ vào đâu để có thể khẳng định
được như vậy?
+ Điều đó được thể hiện cụ thể như thế nào trong tác phẩm, trong văn học và
trong cuộc sống?
– Mở rộng, nâng cao, đánh giá ý nghĩa của vấn đề đó với cuộc sống, với văn
học.
• Kết bài:
+ Khẳng định lại tính chất đúng đắn của vấn đề.
+ Rút ra những điều đáng ghi nhớ và tâm niệm cho bản thân từ vấn đề.
2. Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
a. Các dạng bài nghị luận về bài thơ, đoạn thơ và cách lập ý
– Đối tượng của bài văn nghị luận về thơ rất đa dạng: Có thể là một đoạn thơ, bài
thơ, một hình tượng, có thể là giá trị chung của đoạn thơ, bài thơ, có thể chỉ là
một khía cạnh, một phương diện nội dung hoặc nghệ thuật.
Ví dụ:
Đề 1. Hãy phân tích khổ thơ sau trong bài Tràng giang của Huy Cận:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dờn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
(Ngữ văn 12, tập một)

Đề 2. Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh.
Đề 3. Tư tưởng “Đất nước của Nhân dân” trong đoạn thơ:
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chống yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chin con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiêng
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạn Long thành thắng cảnh
Người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…
(Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước, trích trường ca Mặt đường khát vọng)
Đề 4. Cảm nhận của em về vẻ đẹp lãng mạn và chất bi tráng của hình ảnh người
lính Tây Tiến.
– Các bước tìm ý, lập ý cho làm bài vưn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ:
+ Đọc kỹ bài thơ, đoạn thơ, đi vào tìm hiểu từ ngữ, hình ảnh, âm thanh, nhịp
điệu, câu từ… của bài thơ, đoạn thơ đó; rút ra những nét đặc sắc về nội dung,
nghệ thuật, làm cơ sở để nêu nhận xét đánh giá.
+ Nêu nhận xét, đánh giá về bài thơ, đoạn thơ.
+ Sử dụng luận cứ để thuyết phục người đọc về nhận xét của mình.
b. Cách lập dàn ý
Đảm bảo bố cục: 3 phần
– Mở bài: Giới thiệu khái quát đoạn thơ, bài thơ và vấn đề cần nghị luận.
– Thân bài: Bàn về giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ.
– Kết bài: Đánh giá chung về đoạn thơ, bài thơ.
c. Một vài lưu ý
– Khi làm bài nghị luận về một đoạn thơ, cần đặt đoạn thơ trong chỉnh thể toàn

bài.
– Để tìm được những nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật làm cơ sở, đề nêu
nhận xét, đánh giá phải nắm vững đặc điểm của thơ: Thơ là tiếng nói của xúc
cảm, tình cảm mãnh liệt, của sức liên tưởng, tưởng tượng phong phú; ngôn ngữ
thơ cô đọng, hàm súc, giàu hình ảnh và nhạc điệu. Đọc thơ và nhận xét đánh giá
tác phẩm thơ cần nhận biết cái đẹp, cái độc đáo của ngôn từ, hình ảnh, nhạc
điệu, tứ thơ, ý thơ,…
Ví dụ: Đến với bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh là đến với vẻ đẹp độc đáo của hình
tượng sóng qua ngôn ngữ, hình ảnh, nhạc điệu và kết cấu sóng đôi của hai hình
thượng sóng và em. Từ đó, khám phá vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình
yêu qua cách thể hiện độc đáo của Xuân Quỳnh.
Tứ thơ độc đáo khiến bài thơ có sức ám ảnh đối với người đọc. Sức hấp dẫn
của Đò Lèn (Nguyễn Duy) chính là ở cấu tứ bài thơ. Tái hiện hai không gian hư –
thực với hình ảnh người bà lam lũ, tần tảo và tiên, Phật, thánh, thần trong dòng
kỉ niệm của nhân vật trữ tình, nhà thơ đem đến cho người đọc những chiêm
nghiệm thấm thía, sâu sắc về giá trị đích thực, thiêng liêng của cuộc sông. Sự
vận động của tứ thơ thể hiện sự vận động của nhận thức trong dòng sông cuộc
đời vô cùng, vô hạn.
Lời kể từ của một bài thơ cũng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tìm hiểu
văn bản. Bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên là tiếng hát của một hồn
thơ được hồi sinh bởi Ánh sáng và phù sa của cuộc đời. Bài thơ thể hiện những
dòng suy nghĩ sâu sắc của người nghệ sĩ về mối quan hệ với đất nước, nhân
dân và chiêm nghiệm về cuộc sống và nghệ thuật. Ý tưởng sâu sắc của bài thơ
đã được thể hiện ngay ở khổ thơ đề từ. Tìm hiểu khổ thơ đề từ là mở ra cánh
cửa để đến với thế giới nghệ thuật của bài thơ.
Cách sử dụng ngôn từ của nhà thơ cũng góp phần làm nên vẻ đẹp độc đáo của
bài thơ. Tim hiểu Việt Bắc không thể bỏ qua cách sử dụng đại từ mình, ta rất
thành công của Tố Hữu. Hai đại từ mình, ta song song đi suốt từ đầu đến cuối
bài thơ được sử dụng khéo léo trong hình thức đối đáp, tâm tình; vừa góp phần
tạo nên một hình thức thơ nhuần nhị, sâu lắng mang hồn dân gian, dân tộc, vừa

thể hiện được một cách thấm thía nghĩa tình cách mạng chung thủy, sắt son.
– Khi nêu nhận xét, đánh giá về tác phẩm thơ cần quan tâm đến vai trò của chủ
thể sáng tạo trong quá trình sáng tác (vấn đề tài năng và tâm hồn người nghệ sĩ)
và vai trò của bạn đọc trong quá trình tiếp nhận; sức sống của bài thơ là ở trong
trái tim, tâm hồn bạn đọc.
Ví dụ:
Để nhận xét, đánh giá bài thơ Tiếng hát con tàu trước hết phải hiểu được hành
trình tư tưởng của Chế Lan Viên (“từ chân trời của một người tới chân trời tất cả,
từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”) và nám được phong cách nghệ
thuật của ông (chất suy tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ và thế giới hình ảnh
phong phú được sáng tạo bởi ngòi bút thông minh tài hoa).
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu viết về một sự kiện chính trị có tính thời sự nhưng
chạm tới phần sâu thẳm trong tâm linh mỗi con người bởi thơ Tố Hữu mang tính
chất trữ tình chính trị sâu sắc; giọng thơ tâm tình rất tự nhiên, đằm thắm, chân
thành.
3. Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
a. Các dạng bài nghị luận về đoạn trích,tác phẩm văn xuôi và cách lập dàn
ý
Đối tượng nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi rất đa dạng. Có
thể là giá trị nội dung và nghệ thuật nói chung, có thể chỉ là một phương diện,
thậm chí một khía cạnh nội dung hay nghệ thuật của một tác phẩm, của các tác
phẩm, đoạn trích khác nhau.
– Nghị luận về giá trị nội dung tác phẩm, đoạn trích
Ví dụ:
Đề 1. Giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài).
Đề 2. Bức tranh ngày đói và ý nghĩa tố cáo trong Vợ nhặt (Kim Lân).
Nghị luận về giá trị nội dung thường xoay quanh hai giá trị cơ bản là giá trị nhân
đạo, giá trị hiện thực. Học sinh cần bám vào các biểu hiện của giá trị nhân đạo
(trân trọng đề cao, ngợi ca, bênh vực phẩm chất tốt đẹp, cảm thông, chia sẻ với
nỗi đau khổ bất hạnh của con người, lên án tố cáo thế lực áp bức trong xã hội,

…) và giá trị hiện thực (tính chân thật, sâu sắc, mức độ điển hình trong miêu tả
và phản ánh tực tại cuộc sống,…) để lập ý cho bài viết.
– Nghị luận về giá trị nghệ thuật
Ví dụ:
Đề 1. Phân tích tình huống truyện độc đáo trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
và Vợ nhặt để làm rõ vai trò của việc xây dựng tình huống trong truyện ngắn.
Đề 2. Nghệ thuật châm biếm, đả kích trong truyện ngắn “Vi hành” (Nguyễn Ái
Quốc).
Nghị luận về giá trị nghệ thuật thường bàn về các đặc điểm thể loại văn xuôi và
giá trị chúng như: cách xây dựng cốt truyện, tình huống, nhân vật, điểm nhìn trần
thuật, ngôn ngữ kể chuyện, giọng điệu trần thuật, chi tiết nghệ thuật,…
– Nghị luận về một nhân vật
Ví dụ:
Đề 1. Vai trò của người “vợ nhặt” trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Kim
Lân.
Đề 2. Hình ảnh bà Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội (Nguyễn Khải).
Nghị luận về một nhân vật có nội dung xoay quanh các biểu hiện về phẩm chất,
lối sống, tư tưởng của nhân vật, trên cơ sở đó có những đánh giá về vai trò ý
nghĩa của nhân vật trong việc thể hiện chủ đề về tác phẩm, về thành công trong
việc xây dựng nhân vật của tác giả.
– Nghị luận về một giá trị nội dung, nghệ thuật, một phương diện hay một khía
cạnh của nhiều tác phẩm, đoạn trích khác nhau.
Ví dụ:
Đề 1. Tính thống nhất và sự vận động trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn
Tuân qua hai tác phẩm Chữ người tử tù và Người lái đò Sông Đà.
Đề 2. So sánh vẻ đẹp hai dòng sông qua hai tác phẩm Người lái đò Sông Đà và
Ai đă đặt tên cho dòng sông? Để thấy nét riêng trong phong cách nghệ thuật của
Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường.
– Nghị luận về một giá trị nội dung, nghệ thuật, một phương diện hay một khía
cạnh của nhiều tác phẩm, đoạn trích khác nhau yêu cầu chỉ ra nét chung và nét

riêng trên cơ sở một số tiêu chí về nội dung và nghệ thuật cho hợp lí.
b. Cách lập dàn ý
Đảm bảo bố cục 3 phần:
– Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích và vấn đề cần nghị luận.
– Thân bài: Mỗi ý kiến nhận xét về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của đoạn
trích hay tác phẩm triển khai thành một luận điểm. Trong từng luận điểm sử dụng
các luận cứ (lí lẽ và dẫn chứng) làm sáng tỏ.
– Kết bài: Đánh giá về ý nghĩa, vị trí, vai trò của tác phẩm trong sự nghiệp tác giả,
trong giai đoạn văn học, đối với thời đại; vị trí, ý nghĩa của đoạn trich trong toàn
tác phẩm, hoặc của vấn đề nghị luận.
c. Lưu ý
– Các bước tiến hành làm bài văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn
xuôi:
+ Đọc kĩ tác phẩm, đoạn trích, nắm chắc nội dung, cốt truyện, các nhân vật, các
chi tiết tiêu biểu thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm.
+ Nêu nhận xét, đánh giá về tác phẩm, đoạn trích theo định hướng của đề hoặc
một số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm, đoạn trích.
+ Triển khai các luận cứ phù hợp.
+ Lựa chọn các thao tác lập luận: Ngoài các thao tác thường gặp như giải thích,
phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận, … trong bài văn
nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi rất cần kết hợp các phương thức
biểu đạt tự sự (thuật kể tóm tắt nội dung, cốt truyện, nhân vật, chi tiết,…), miêu
tả, thuyết minh.
– Khi làm kiểu bài này, học sinh hay rơi vào thuật, kể lại chi tiết mà thiếu sự phân
tích, đánh giá cụ thể trên cơ sở khoa học – hiểu văn bản. Để tránh đưa ra những
ý kiến chung chung, người viết cần nắm chắc đặc trưng của văn bản truyện.
Đồng thời phải biết kể lại tình huống truyện, nhớ chính xác những từ ngữ quan
trọng miêu tả đặc điểm nhân vật, thuật lại những chi tiết nghệ thuật đắt giá, thuộc
được những câu văn hay, đặc sắc,… Chỉ như thế, người viết mới có thể nêu ra
nhận định cụ thể, thuyết phục. Đây cũng là điểm riêng làm nên độ khó nhất định

của kiểu bài nghị luận một tác phẩm hay đoạn trích văn xuôi so với nghị luận về
một đoạn thơ, bài thơ.
– Nếu đề bài trích dẫn cả đoạn văn ngắn cần phân tích, học sinh phải biết vận
dụng hiểu biết tác phẩm, tác giả để đọc ra được nội dung của đoạn thông qua
cách kể chuyện, cách sử dụng chi tiết, cách xây dựng nhân vật, các biện pháp tu
từ,… Nhất thiết phải đặt đoạn văn trong chỉnh thể tác phẩm mới có những đánh
giá xác đáng về giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.
4.Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
a. Các dạng bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Các vấn đề có ý nghĩa được đưa ra trong tác phẩm văn học được đưa ra từ hai
nguồn chính:
– Từ các tác phẩm văn học đã được học trong chương trình.
– Từ các mẩu truyện nhỏ hoặc những văn bản ngắn gọn học sinh có thể chưa
được học nhưng tương đối dễ tiếp nhận.
Ví dụ:
Đề 1. Triết lí vê việc đỗ, trượt trong thi cử của thân phụ Đặng Huy Trứ (văn bản
Cha tôi trong Ngữ văn 11 Nâng cao) gợi cho anh chị suy nghĩ gì về việc thi cử
của bản thân?
Đề 2. Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, nhân vật
Trương Ba nói: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi
muốn được là tôi toàn vẹn”.
Câu nói trên để lại cho anh (chị) những suy nghĩ gì?
Đề 3. Từ bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến, nghĩ về danh và thực trong xã
hội chúng ta ngày nay.
Đề 4. Bài thơ Tôi yêu em của Pu-skin và những suy nghĩ của anh (chị) về một
tình yêu tuyệt đẹp.
Đề 5. Suy nghĩ của anh (chị) từ câu chuyện sau:
Anh dừng lại tiệm bán hoa để gửi hoa tặng mẹ qua đường bưu điện. Mẹ anh
sống cách chỗ anh khoảng 300 kilomet. Khi bước ra khỏi xe anh thấy một bé gái
đang đứng khóc trên vỉa hè. Anh đến và hỏi nó sao lại khóc.

– Cháu muốn mua một bông hoa hồng để tặng mẹ cháu – nó khóc nức nở –
nhưng cháu chỉ có bảy mươi lăm xu trong khi giá hoa hồng lên đến hai đô la.
Anh mỉm cười và nói với nó:
– Đến đây, chú sẽ mua cho cháu.
Anh liền mua hoa cho cô bé và đặt một bó hồng để gửi cho mẹ anh. Xong xuôi,
anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không. Nó vui mừng nhìn anh và trả lời:
– Dạ, chú cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu.
Rồi nó chỉ đường cho anh lái xe đến một nghĩa trang, nơi có một phần mộ vừa
mới đắp. Nó chỉ ngôi mộ và nói:
– Đây là nhà của mẹ cháu.
Nói xong nó ân cần đặt nhánh hoa hồng lên mộ.
Tức thì anh quay lại tiệm bán hoa hủy bỏ dịch vụ mua hoa vừa rồi và mua một
bó hoa hồng thật đẹp. Suốt đêm đó, anh đã lái một mạch 300 kilomet về nhà mẹ
anh để trao tận tay bà bó hoa.
Để làm tốt dạng bài này, học sinh trước hết phải đọc kĩ văn bản, xác định đúng
vấn đề nghị luận, từ đó vận dụng kiến thức và sự hiểu biết về đời sống xã hội,
những kinh nghiệm và sự trải nghiệm của chinh bản thân để làm bài. Bài viết có
thể được lập với hai phần lớn:
– Nêu và phân tích ngắn gọn vấn đề được đặt ra trong tác phẩm.
– Phát biểu nhứng suy nghĩ và tình cảm của mình về vấn đề đó nhân đọc tác
phẩm.
b. Cách lập dàn ý
Đảm bảo bố cục 3 phần:
– Mở bài:
+ Giới thiệu tác giả, tác phẩm có vấn đề nghị luận.
+ Giới thiệu vấn đề được đưa ra bàn bạc.
– Thân bài:
+ Nêu vấn đề được đặt ra trong tác phẩm văn học, phần này người viết phải vận
dụng kĩ năng đọc – hiểu văn bản để trả lời các câu hỏi: Vấn đề đó là gì? Được
thể hiện như thế nào trong tác phẩm? Cần nhớ, tác phẩm văn học chỉ là cái cớ

để nhân ý kiến đó mà bàn bạc, nghị luận về vấn đề xã hội, vì thế không nên đi
quá sâu vào việc phân tích tác phẩm mà chủ yếu rút ra ý nghĩa khái quát để bàn
bạc vấn đề có ý nghĩa xã hội.
+ Từ vấn đề được rút ra, người viết tiến hành làm bài nghị luận xã hội, nêu
những suy nghĩ của bản thân mình về vấn đề ấy. Học sinh nên tham khảo lại
cách thức làm bài nghị luận xã hội (về tư tưởng đạo lí, về một hiện tượng của
đời sống) để làm tốt phần này.
– Kết bài:
+ Khẳng định ý nghĩa của vấn đề trong việc tạo nên giá trị của tác phẩm.
+ Từ vấn đề được bàn luận rút ra bài học cho bản thân.
B. NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
I. Các dạng bài văn nghị luận xã hội và thao tác làm một bào văn nghị luận
xã hội
1. Các dạng bài văn nghị luận xã hội
– NLXH thường là những vấn đề rất rộng của đời sống, học sinh lại thiếu hiểu
biết xã hội, nên không có vốn để viết.
– NLXH hay có những câu danh ngôn, định nghĩa, khái niệm, nên chúng thường
rất trừu tượng, học sinh sẽ gặp khó khăn khi phải hiểu, phải lý giải được ý nghĩa
của nó, ngay từ bước đầu đã vướng phải những vấn đề “khó nuốt” như vậy
huống hồ phải triển khai thành bài văn với hệ thống ý chặt chẽ, kín kẽ, thuyết
phục
– NLXH cần ở học sinh sự linh hoạt trong nhận thức vấn đề, và từ nhận thức đi
đến trình bày cái hiểu là cả 1 quá trình, để áp dụng và diễn đạt những cái mình
hiểu đâu phải chuyện dễ dàng gì với nhiều học sinh.
Chính vì thế nhiều em đã dở khóc dở cười với văn NLXH, trong khi áp lực của
thi cử và các bài kiểm tra luôn đè nặng lên các em. Thực ra, ở Trung Quốc và
nhiều nước phương Tây đã có những đề mở này từ rất lâu và áp dụng trong kỳ
thi tốt nghiệp và ĐH. Nên việc các em phải tập làm quen với văn nghị luận XH là
1 yêu cầu cần thiết, và các em phải tập với hình thức tư duy của dạng đề này.
* Khi bắt gặp 1 đề NLXH, các em phải tự đặt ra cho mình 2 câu hỏi và phải

tự trả lời 2 câu hỏi ấy:
1/ Đề yêu cầu nội dung nghị luận về chủ đề gì?
2/ Thao tác nghị luận chính dùng để nghị luận trong quá trình viết để đáp ứng
yêu cầu của đề là gì?
* Các chủ đề quen thuộc của văn nghị luận XH:
– Đạo dức – nhân sinh.
– Tư tưởng văn hoá.
– Lịch sử.
– Kinh tế.
– Chính trị.
– Địa lý, môi trường.
* Các thao tác chính hay dùng: Chứng minh, Giải thích, Bình luận.
=> Đề ra thường vừa yêu cầu về kiến thức (nằm ở các chủ đề khác nhau), vừa
yêu cầu về kĩ năng (nằm ở các thao tác yêu cầu cần thực hiện). Nên các em vừa
phải chịu học để bổ sung kiến thức cho phong phú, vừa phải rèn luyện các kĩ
năng để thực hiện thao tác nghị luận cho đúng phương pháp.
– Về mặt kiến thức, buộc các em phải tự trang bị, vì không có 1 loại biện pháp
vạn năng giúp nhét kiến thức vào đầu các em, mà đó phải là 1 quá trình tích luỹ
dần dần, đồng thời phải có ý thức học kiến thức trên nhà trường 1 cách đầy đủ.
Ở đây, chúng ta chỉ có thể bàn về yêu cầu phương pháp.
Đề bài thường yêu cầu các em phải làm theo 1 thao tác chủ yếu: giải thích,
chứng minh hay bình luận.
2. Các thao tác của một bài văn NLXH
2.1. Giải thích:
+ Yêu cầu đặt ra:
Đi sâu vào những phát ngôn rất súc tích để tìm hiểu và lý giải nội dung ý nghĩa
bên trong. Tức là ta phải làm sáng tỏ, giảng giải, bóc tách vấn đề cho người đọc
hiểu được thấu đáo cái đang được đề cập khi chúng còn đang mơ hồ.
+ Công việc cụ thể:
Để làm sáng tỏ vấn đề, ta phải đi vào lý giải từ ngữ, điển tích, khái niệm, đi vào

nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hẹp, nghĩa mở rộng, đi vào những cách nói tế nhị
bóng bẩy để hiểu được đến nơi đến chốn điều người ta muốn và cái lẽ khiến
người ta nói như vậy.
Trong thao tác giải thích, ta vừa dùng lý lẽ để phân tích, lý giải là chủ yếu; vừa
dùng dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề, xác lập 1 cách hiểu đúng đắn, sâu sắc
có tính biện chứng nhằm chống lại cách hiểu sai, hiểu không đầy đủ, không hết
ý.
Bước kết thúc của thao tác giải thích là rút ra điều chúng ta cần vận dụng khi đã
tìm hiểu được chân lý. Phương hướng để vận dụng những chân lý này vào cuộc
sống hàng ngày, tuỳ theo cho cá thể hay cho cộng đồng mà có hướng vận dụng
phù hợp, và mỗi chúng ta phải như thế nào?
=> Từ những điều nói trên, ta rút ra 1 sơ đồ tổng quát theo 3 bước:
– Làm sáng tỏ điều mà người ta muốn nói.(giải thích)
– Trả lời vì sao người ta đã nói như vậy?(tại sao?)
– Từ chân lý được nói lên, rút ra bài học gì trong thực tiễn?(để làm gì)
2.2. Chứng minh:
+ Yêu cầu đặt ra:
Làm sáng tỏ chân lý bằng các dẫn chứng và lý lẽ. Khi ta đã chấp nhận cái chân
lý thể hiện trong 1 phát ngôn nào đó, nhiệm vụ là ta sẽ phải thuyết phục người
khác cũng chấp nhận như mình = những dẫn chứng rút ra từ thực tế cuộc sống
xưa và nay, từ lịc sử, từ văn học (nếu đề yêu cầu) và kèm theo dẫn chứng là
những lý lẽ dẫn dắt, phân tích tạo ra lập luận vững chắc, mang đến niềm tin cho
người đọc.
+ Công việc cụ thể:
Bước đầu tiên là phải tìm hiểu điều cần phải chứng minh, không những chỉ bản
thân mình hiểu, mà còn phải làm cho người khác thống nhất, đồng tình với mình
cách hiểu đúng nhất.
Tiếp theo là việc lựa chọn dẫn chứng. Từ thực tế cuộc sống rộng lớn, tư liệu lịch
sử rất phong phú, ta phải tìm & lựa chọn từ trong đó những dẫn chứng xác đáng
nhất, tiêu biểu, toàn diện nhất (nên chỉ cần vài ba cái để làm sáng tỏ điều cần

CM). Dẫn chứng phải thật sát với điều đang muốn làm sáng tỏ và kèm theo dẫn
chứng phải có lý lẽ phân tích – chỉ ra những nét, những điểm ta cần làm nổi bật
trong các dẫn chứng kia. Để dẫn chứng và lý lẽ có sức thuyết phục cao, ta phải
sắp xếp chúng -> 1 hệ thống mạc lạc và chặt chẽ: theo trình tự thời gian, không
gian, từ xưa đến nay, từ xa đến gần, từ ngoài vào trong hoặc ngược lại miễn
sao hợp logic.
Bước kết thúc vẫn là bước vận dụng, đặt vấn đề vào thực tiễn cuộc sống hôm
nay để đề xuất phương hướng nỗ lực. Chân lý chỉ giá trị khi soi rọi cho ta sống,
làm việc tốt hơn. Ta cần tránh công thức và rút ra kết luận cho thoả đáng, thích
hợp với từng người, hoàn cảnh, sự việc.
=> Từ những điều nói trên, ta rút ra 1 sơ đồ tổng quát theo 3 bước:
– Làm rõ điều cần chứng minh trong luận đề được nêu lên.
– Lần lượt đưa ra các dẫn chứng và lý lẽ để làm sáng tỏ điều cần chứng minh.
– Rút ra kết luận về phương hướng nỗ lực.
2.3. Bình luận:
Đây là thao tác có tính tổng hợp vì nó bao hàm cả công việc giải thích lẫn chứng
minh. Nên những yêu cầu của giải thích và chứng minh cũng là yêu cầu đối với
văn bình luận, nhưng giải thích và chứng minh sẽ được viết cô đọng, ngắn gọn
hơn so với chỉ 1 thao tác chứng minh hoặc giải thích để tập trung cho phần việc
quan trọng nhất là bình luận – phần mở rộng vấn đề.
Trước khi bình luận, ta thường phải bày tỏ thái độ, để khách quan và tránh phiến
diện, ta phải xem xét kĩ luận đề để từ đó có thái độ đúng đắn, có 3 khả năng:
– Hoàn toàn nhất trí.
– Chỉ nhất trí 1 phần. (có giới hạn, có điều kiện)
– Không chấp nhận. (bác bỏ)
Sau đó, ta bình luận – mở rộng lời bàn để vấn đề được nhìn nhận sâu hơn, toàn
diện hơn, triệt để hơn.
Cuối cùng, ta lại chỉ ra phương hướng vận dụng để đưa lý luận vào áp dụng
thực tế cuộc sống.
=> Bố cục của một bài văn bình luận gồm:

– Mở bài:
Dẫn dắt, giới thiệu luận đề.
– Thân bài:
+ Xác định ý nghĩa cơ bản của luận đề. (ý nghĩa)
+ Bày tỏ thái độ của chúng ta trên những nét bao quát nhất. (đánh giá)
+ Trình bày nội dung cơ bản: bình luận. (mở rộng, bổ sung lời bàn)
– Kết bài:
Kết thúc luận đề (rút ra kết luận thực tiễn).
> Khi làm bài bình luận, chúng ta phải rất linh hoạt, tránh cái nhìn phiến diện 1
chiều, và không bị sa bẫy vào những câu nói nghe có vẻ tưởng chừng đúng
nhưng lại còn tồn tại những cách hiểu lệch lạc, chưa đúng đắn. Bằng vốn tri
thức, vốn sống của bản thân ta tìm ra cách hiểu đúng đắn nhất, rồi từ đó bằng
lập luận, lý lẽ và dẫn chứng, ta lôi cuốn mọi người đồng ý, đồng tình với cách
đánh giá, lời bàn của ta 1 cách bị chinh phục.
II. Một số dạng bài nghị luận xã hội phổ biến và cách lập dàn ý
***NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÝ
1. Khái niệm, đề tài, yêu cầu và các thao tác chính:
a) Khái niệm
Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là quá trình kết hợp những thao tác lập luận để
làm rõ những vấn đề tư tưởng đạo lí trong cuộc đời.
b) Đề tài
Đề tài của nghị luận về tư tưởng, đạo lí là vô cùng phong phú, bao gồm:
– Các vấn đề về nhận thức như lí tưởng, mục đích sống,…
– Các vấn đề về tâm hồn, tính cách như:
+ Lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, bao dung, độ lượng,…
+ Tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ, cần cù, thái độ hòa nhã, khiêm tốn,…
+ Thói ích kỉ, ba hoa, vụ lợi,
– Về các quan hệ gia đình như tình mẫu tử, anh em,
– Về quan hệ xã hội như tình đồng bào, tình thầy trò, bạn bè,…
– Về cách ứng xử, những hành động của mỗi người trong cuộc sống.

c) Yêu cầu
– Hiểu được vấn đề cần nghị luận qua phân tích, giải thích để xác định vấn đè
– Phân tích, chứng minh những biểu hiện cụ thể của vấn đề, thậm chí so sánh,
bàn bạc, bãi bỏ,… nghĩa là biết áp dụng nhiều thao tác lập luận.
– Phải biết rút ra ý nghĩa của vấn đề.
– Người thực hiện nghị luận phải có lí tưởng và đạo lí.
d) Các thao tác lập luận cơ bản
Các thao tác lập luận cơ bản thường được sử dụng trong kiểu bài này là giải
thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận.
2. Cách làm bài
a) Mở bài
– Giới thiệu vấn đề được đưa ra bình luận.
– Nêu luận đề: dẫn nguyên văn câu danh ngôn hoặc nội dung bao trùm của danh
ngôn.
– Giới hạn nội dung và thao tác nghị luận sẽ triển khai.
b) Thân bài
– Giải thích tư tưởng, đạo lí cần nghị luận (nêu các khía cạnh nội dung của tư
tưởng, đạo lí này).
– Phân tích, chứng minh, bình luận các khía cạnh ; bác bỏ, phê phán những sai
lệch (nếu có).
– Khẳng định chung, nêu ý nghĩa, liên hệ thực tế, rút ra bài học nhận thức và
hành động.
– Lấy dẫn chứng minh họa (ngắn gọn, tiêu biểu, dễ hiểu).
c) Kết bài
Tóm tắt các ý, nhấn mạnh luận đề đã nêu ở đầu bài nhằm chốt lại bài viết hoặc
dẫn thơ, văn để mở rộng, gợi ý thêm cho người đọc về vấn đề đang bàn luận.
3. Tổng kết
Muốn làm bài văn
trong các tác phẩm, thấy góp phần của yếu tố trong tiến trình tăng trưởng của vănhọc. – Nghị luận về lí luận văn họcVí dụ : Đề 1. Bàn về truyện ngắn, có người viết : “ Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyệnngắn, là những chi tiết cụ thể cô đúc, có dung tích lớn và lối hành văn mang nhiều ẩný, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết ” ( Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục đào tạo, 1992, tr. 253 ). Anh ( chị ) có chấp thuận đồng ý với quan điểm trên ? Đề 2. Bàn về đọc sách, nhất là đọc tác phẩm văn học lớn, người xưa nói : “ Tuổitrẻ đọc sách như nhìn trăng qua cái kẽ, lớn tuổi đọc sách như ngắm trăng ngoàisân, tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên đài ” ( Dẫn theo Lâm Ngữ Đường, sống đẹp, Nguyễn Hiền Lê dịch, NXB Tao đàn, Hồ Chí Minh, 1965 ). Anh ( chị ) hiểu quan điểm trên như thế nào ? ( Ngữ văn 12, tập một, tr. 1965 ). Nghị luận về lí luận văn học thường là các quan điểm bàn về những đặc trưng cơbản của văn học, các thể loại tiêu biểu vượt trội như truyện, thơ, kịch, … các yếu tố thuộcphạm vi lí luận văn học như đảm nhiệm văn học, phong thái nghệ thuật và thẩm mỹ, … Để lậpý cho bài viết, học viên cần xác lập rõ vấn đề nghị luận, bàn đến yếu tố gì, thuộc khoanh vùng phạm vi nào ? Tại sao lại nói như thế ? Nội dung ấy được biểu lộ như thếnào qua tác phẩm văn học tiêu biểu vượt trội ? – Nghị luận về một yếu tố trong tác phẩm văn họcVí dụ : Đề 1. Trong truyện Những đứa con trong mái ấm gia đình, Nguyễn Thi có nêu lên quanniệm : Chuyện mái ấm gia đình cũng dài như sông, mỗi thế hệ phải ghi vào một khúc. Rồitrăm con sông của mái ấm gia đình lại cùng đổ về một biển, “ mà biển thì rộng lắm [ … ], rộng bằng cả nước ra và ra ngoài cả nước ta ”. Anh ( chỉ ) có cho rằng, trong thiên truyện của Nguyễn Thi quả đã có một dòngsông truyền thống cuội nguồn liên tục chảy từ những lớp người đi trước : tổ tiên, ông cha, cho đến lớp người đi sau : Chị em Chiến, Việt ( Ngữ văn 12, tập hai, tr. 68 ) Đề 2. Trong đoạn trích Đất Nước ( trích trường ca Mặt đường khát vọng ), Nguyễn Khoa Điềm viết : Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dânĐất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoạiCó thể nói hai câu thơ trên đã biểu lộ tập trung chuyên sâu những rực rỡ điển hình nổi bật về nộidung và thẩm mỹ và nghệ thuật của đoạn trích. Qua sự nghiên cứu và phân tích đoạn thơ, anh ( chị ) hãy làmsáng tỏ điều đó. Nghị luận về yếu tố trong tác phẩm văn học : Thường là các quan điểm nhìn nhận, nhận xét về một góc nhìn nào đó của tác phẩm như những giá trị nội dung, những rực rỡ thẩm mỹ và nghệ thuật, những quy luật, mày mò, chiêm nghiệm về đờisống toát lên từ tác phẩm, những nhận xét về các nhân vật, … Để lập ý, học sinhcần hiểu kĩ, hiểu sâu về tác phẩm, biết cách kêu gọi kỹ năng và kiến thức để làm sáng tỏvấn đề. Cụ thể như : nêu nguồn gốc của yếu tố ( Xuất hiện ở phần nào của tácphẩm ? Ai nói ? Nói trong thực trạng nào ?, … ), nghiên cứu và phân tích những biểu lộ cụ thểcủa yếu tố ( Được biểu lộ như thế nào ? Những dẫn chứng đơn cử để chứngminh, … ). Từ đó nhìn nhận ý nghĩa của yếu tố trong việc tạo nên giá trị của tácphẩm văn học. b. Cách lập dàn ýTùy theo đối tượng người tiêu dùng và khoanh vùng phạm vi các yếu tố được đưa ra luận bàn mà hoàn toàn có thể cócác cách tiến hành khác nhau. Tuy vậy, mục tiêu của bài học kinh nghiệm vẫn phải là hướngđến việc rèn luyện các kĩ năng tạo dựng một bài văn bản nghị luận nên nội dungcó thể rất là nhiều mẫu mã nhưng người viết vẫn phải tuân theo những thao tácvà các bước cơ bản của văn nghị luận. Có thể khái quát quy mô chung để triểnkhai bài viết như sau : • Mở bài : – Dẫn dắt yếu tố. – Nêu nguồn gốc và trích dẫn quan điểm. – Giới hạn khoanh vùng phạm vi tư liệu. • Thân bài : – Giải thích, làm rõ yếu tố : + Giải thích, cắt nghĩa các từ, cụm từ có nghĩa khái quát hoặc hàm ẩn trong đềbài. Để tạo chất văn, gây hứng thú cho người viết, những đề văn thường cócách diễn đạt ấn tượng, làm lạ hóa những yếu tố quen thuộc. Nhiệm vụ củangười làm bài là phải tường minh, cụ thể hóa những yếu tố ấy để từ đó triểnkhai bài viết. + Sau khi cắt nghĩa các từ ngữ thiết yếu cần phải lý giải, làm rõ nội dung củavấn đề cần bàn luận. Thường vấn đáp các câu hỏi : Ý kiến trên đề cập đến vấn đềgì ? Câu nói ất có ý nghĩa như thế nào ? – Bàn bạc, chứng minh và khẳng định yếu tố. Có thể lập luận theo cách sau : + Khẳng định quan điểm đó đúng hay sai ? Mức độ đúng sai như thế nào ? + Lí giải tại sao lại nhận xét như thế ? Căn cứ vào đâu để hoàn toàn có thể khẳng địnhđược như vậy ? + Điều đó được bộc lộ đơn cử như thế nào trong tác phẩm, trong văn học vàtrong đời sống ? – Mở rộng, nâng cao, nhìn nhận ý nghĩa của yếu tố đó với đời sống, với vănhọc. • Kết bài : + Khẳng định lại đặc thù đúng đắn của yếu tố. + Rút ra những điều đáng ghi nhớ và tâm niệm cho bản thân từ yếu tố. 2. Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơa. Các dạng bài nghị luận về bài thơ, đoạn thơ và cách lập ý – Đối tượng của bài văn nghị luận về thơ rất phong phú : Có thể là một đoạn thơ, bàithơ, một hình tượng, hoàn toàn có thể là giá trị chung của đoạn thơ, bài thơ, hoàn toàn có thể chỉ làmột góc nhìn, một phương diện nội dung hoặc thẩm mỹ và nghệ thuật. Ví dụ : Đề 1. Hãy nghiên cứu và phân tích khổ thơ sau trong bài Tràng giang của Huy Cận : Lớp lớp mây cao đùn núi bạcChim nghiêng cánh nhỏ : bóng chiều saLòng quê dờn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. ( Ngữ văn 12, tập một ) Đề 2. Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh. Đề 3. Tư tưởng “ Đất nước của Nhân dân ” trong đoạn thơ : Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng PhuCặp vợ chống yêu nhau góp nên hòn Trống MáiGót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lạiChín mươi chin con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng VươngNhững con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳmNgười học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non NghiêngCon cóc, con gà quê nhà cùng góp cho Hạn Long thành thắng cảnhNgười dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà ĐiểmVà ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãiChẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông chaÔi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấyNhững cuộc sống đã hóa núi sông ta … ( Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước, trích trường ca Mặt đường khát vọng ) Đề 4. Cảm nhận của em về vẻ đẹp lãng mạn và chất bi tráng của hình ảnh ngườilính Tây Tiến. – Các bước tìm ý, lập ý cho làm bài vưn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ : + Đọc kỹ bài thơ, đoạn thơ, đi vào khám phá từ ngữ, hình ảnh, âm thanh, nhịpđiệu, câu từ … của bài thơ, đoạn thơ đó ; rút ra những nét rực rỡ về nội dung, nghệ thuật và thẩm mỹ, làm cơ sở để nêu nhận xét nhìn nhận. + Nêu nhận xét, nhìn nhận về bài thơ, đoạn thơ. + Sử dụng luận cứ để thuyết phục người đọc về nhận xét của mình. b. Cách lập dàn ýĐảm bảo bố cục tổng quan : 3 phần – Mở bài : Giới thiệu khái quát đoạn thơ, bài thơ và yếu tố cần nghị luận. – Thân bài : Bàn về giá trị nội dung và thẩm mỹ và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ. – Kết bài : Đánh giá chung về đoạn thơ, bài thơ. c. Một vài chú ý quan tâm – Khi làm bài nghị luận về một đoạn thơ, cần đặt đoạn thơ trong chỉnh thể toànbài. – Để tìm được những nét rực rỡ về nội dung, nghệ thuật và thẩm mỹ làm cơ sở, đề nêunhận xét, nhìn nhận phải nắm vững đặc thù của thơ : Thơ là lời nói của xúccảm, tình cảm mãnh liệt, của sức liên tưởng, tưởng tượng nhiều mẫu mã ; ngôn ngữthơ cô đọng, hàm súc, giàu hình ảnh và nhạc điệu. Đọc thơ và nhận xét đánh giátác phẩm thơ cần phân biệt cái đẹp, cái độc lạ của ngôn từ, hình ảnh, nhạcđiệu, tứ thơ, ý thơ, … Ví dụ : Đến với bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh là đến với vẻ đẹp độc lạ của hìnhtượng sóng qua ngôn từ, hình ảnh, nhạc điệu và cấu trúc sóng đôi của hai hìnhthượng sóng và em. Từ đó, mày mò vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tìnhyêu qua cách bộc lộ độc lạ của Xuân Quỳnh. Tứ thơ độc lạ khiến bài thơ có sức ám ảnh so với người đọc. Sức hấp dẫncủa Đò Lèn ( Nguyễn Duy ) chính là ở cấu tứ bài thơ. Tái hiện hai khoảng trống hư – thực với hình ảnh người bà lam lũ, tần tảo và tiên, Phật, thánh, thần trong dòngkỉ niệm của nhân vật trữ tình, nhà thơ đem đến cho người đọc những chiêmnghiệm thấm thía, thâm thúy về giá trị đích thực, thiêng liêng của cuộc sông. Sựvận động của tứ thơ bộc lộ sự hoạt động của nhận thức trong dòng sông cuộcđời vô cùng, vô hạn. Lời kể từ của một bài thơ cũng có ý nghĩa quan trọng trong quy trình tìm hiểuvăn bản. Bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên là tiếng hát của một hồnthơ được hồi sinh bởi Ánh sáng và phù sa của cuộc sống. Bài thơ bộc lộ nhữngdòng tâm lý thâm thúy của người nghệ sĩ về mối quan hệ với quốc gia, nhândân và chiêm nghiệm về đời sống và nghệ thuật và thẩm mỹ. Ý tưởng thâm thúy của bài thơđã được biểu lộ ngay ở khổ thơ đề từ. Tìm hiểu khổ thơ đề từ là mở ra cánhcửa để đến với quốc tế thẩm mỹ và nghệ thuật của bài thơ. Cách sử dụng ngôn từ của nhà thơ cũng góp thêm phần làm ra vẻ đẹp độc lạ củabài thơ. Tim hiểu Việt Bắc không hề bỏ lỡ cách sử dụng đại từ mình, ta rấtthành công của Tố Hữu. Hai đại từ mình, ta song song đi suốt từ đầu đến cuốibài thơ được sử dụng khôn khéo trong hình thức đối đáp, tâm tình ; vừa góp phầntạo nên một hình thức thơ nhuần nhị, sâu lắng mang hồn dân gian, dân tộc bản địa, vừathể hiện được một cách thấm thía nghĩa tình cách mạng chung thủy, sắt son. – Khi nêu nhận xét, nhìn nhận về tác phẩm thơ cần chăm sóc đến vai trò của chủthể phát minh sáng tạo trong quy trình sáng tác ( yếu tố năng lực và tâm hồn người nghệ sĩ ) và vai trò của bạn đọc trong quy trình đảm nhiệm ; sức sống của bài thơ là ở trongtrái tim, tâm hồn bạn đọc. Ví dụ : Để nhận xét, nhìn nhận bài thơ Tiếng hát con tàu trước hết phải hiểu được hànhtrình tư tưởng của Chế Lan Viên ( “ từ chân trời của một người tới chân trời toàn bộ, từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui ” ) và nám được phong thái nghệthuật của ông ( chất suy tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ và thế giới hình ảnhphong phú được phát minh sáng tạo bởi ngòi bút mưu trí tài hoa ). Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu viết về một sự kiện chính trị có tính thời sự nhưngchạm tới phần sâu thẳm trong tâm linh mỗi con người bởi thơ Tố Hữu mang tínhchất trữ tình chính trị thâm thúy ; giọng thơ tâm tình rất tự nhiên, đằm thắm, chânthành. 3. Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôia. Các dạng bài nghị luận về đoạn trích, tác phẩm văn xuôi và cách lập dànĐối tượng nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi rất phong phú. Cóthể là giá trị nội dung và nghệ thuật và thẩm mỹ nói chung, hoàn toàn có thể chỉ là một phương diện, thậm chí còn một góc nhìn nội dung hay thẩm mỹ và nghệ thuật của một tác phẩm, của các tácphẩm, đoạn trích khác nhau. – Nghị luận về giá trị nội dung tác phẩm, đoạn tríchVí dụ : Đề 1. Giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ ( Tô Hoài ). Đề 2. Bức tranh ngày đói và ý nghĩa tố cáo trong Vợ nhặt ( Kim Lân ). Nghị luận về giá trị nội dung thường xoay quanh hai giá trị cơ bản là giá trị nhânđạo, giá trị hiện thực. Học sinh cần bám vào các biểu lộ của giá trị nhân đạo ( trân trọng tôn vinh, ngợi ca, bênh vực phẩm chất tốt đẹp, cảm thông, san sẻ vớinỗi đau khổ xấu số của con người, lên án tố cáo thế lực áp bức trong xã hội, … ) và giá trị hiện thực ( tính chân thực, thâm thúy, mức độ nổi bật trong miêu tảvà phản ánh tực tại đời sống, … ) để lập ý cho bài viết. – Nghị luận về giá trị nghệ thuậtVí dụ : Đề 1. Phân tích trường hợp truyện độc lạ trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xavà Vợ nhặt để làm rõ vai trò của việc thiết kế xây dựng trường hợp trong truyện ngắn. Đề 2. Nghệ thuật châm biếm, đả kích trong truyện ngắn “ Vi hành ” ( Nguyễn ÁiQuốc ). Nghị luận về giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ thường bàn về các đặc thù thể loại văn xuôi vàgiá trị chúng như : cách thiết kế xây dựng diễn biến, trường hợp, nhân vật, điểm nhìn trầnthuật, ngôn từ kể chuyện, giọng điệu trần thuật, cụ thể nghệ thuật và thẩm mỹ, … – Nghị luận về một nhân vậtVí dụ : Đề 1. Vai trò của người “ vợ nhặt ” trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn KimLân. Đề 2. Hình ảnh bà Hiền trong truyện ngắn Một người TP.HN ( Nguyễn Khải ). Nghị luận về một nhân vật có nội dung xoay quanh các biểu lộ về phẩm chất, lối sống, tư tưởng của nhân vật, trên cơ sở đó có những nhìn nhận về vai trò ýnghĩa của nhân vật trong việc bộc lộ chủ đề về tác phẩm, về thành công xuất sắc trongviệc thiết kế xây dựng nhân vật của tác giả. – Nghị luận về một giá trị nội dung, nghệ thuật và thẩm mỹ, một phương diện hay một khíacạnh của nhiều tác phẩm, đoạn trích khác nhau. Ví dụ : Đề 1. Tính thống nhất và sự hoạt động trong phong thái thẩm mỹ và nghệ thuật của NguyễnTuân qua hai tác phẩm Chữ người tử tù và Người lái đò Sông Đà. Đề 2. So sánh vẻ đẹp hai dòng sông qua hai tác phẩm Người lái đò Sông Đà vàAi đă đặt tên cho dòng sông ? Để thấy nét riêng trong phong thái nghệ thuật và thẩm mỹ củaNguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường. – Nghị luận về một giá trị nội dung, nghệ thuật và thẩm mỹ, một phương diện hay một khíacạnh của nhiều tác phẩm, đoạn trích khác nhau nhu yếu chỉ ra nét chung và nétriêng trên cơ sở một số ít tiêu chuẩn về nội dung và nghệ thuật và thẩm mỹ cho hợp lý. b. Cách lập dàn ýĐảm bảo bố cục tổng quan 3 phần : – Mở bài : Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích và yếu tố cần nghị luận. – Thân bài : Mỗi quan điểm nhận xét về đặc thù nội dung và nghệ thuật và thẩm mỹ của đoạntrích hay tác phẩm tiến hành thành một vấn đề. Trong từng vấn đề sử dụngcác luận cứ ( lí lẽ và dẫn chứng ) làm sáng tỏ. – Kết bài : Đánh giá về ý nghĩa, vị trí, vai trò của tác phẩm trong sự nghiệp tác giả, trong quy trình tiến độ văn học, so với thời đại ; vị trí, ý nghĩa của đoạn trich trong toàntác phẩm, hoặc của vấn đề nghị luận. c. Lưu ý – Các bước thực thi làm bài văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích vănxuôi : + Đọc kĩ tác phẩm, đoạn trích, nắm chắc nội dung, diễn biến, các nhân vật, cácchi tiết tiêu biểu vượt trội bộc lộ tư tưởng chủ đề tác phẩm. + Nêu nhận xét, nhìn nhận về tác phẩm, đoạn trích theo khuynh hướng của đề hoặcmột số góc nhìn rực rỡ nhất của tác phẩm, đoạn trích. + Triển khai các luận cứ tương thích. + Lựa chọn các thao tác lập luận : Ngoài các thao tác thường gặp như lý giải, nghiên cứu và phân tích, tổng hợp, chứng tỏ, so sánh, bác bỏ, phản hồi, … trong bài vănnghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi rất cần tích hợp các phương thứcbiểu đạt tự sự ( thuật kể tóm tắt nội dung, diễn biến, nhân vật, cụ thể, … ), miêutả, thuyết minh. – Khi làm kiểu bài này, học viên hay rơi vào thuật, kể lại chi tiết cụ thể mà thiếu sự phântích, nhìn nhận đơn cử trên cơ sở khoa học – hiểu văn bản. Để tránh đưa ra nhữngý kiến chung chung, người viết cần nắm chắc đặc trưng của văn bản truyện. Đồng thời phải biết kể lại trường hợp truyện, nhớ đúng mực những từ ngữ quantrọng miêu tả đặc thù nhân vật, thuật lại những chi tiết cụ thể nghệ thuật và thẩm mỹ đắt giá, thuộcđược những câu văn hay, rực rỡ, … Chỉ như vậy, người viết mới hoàn toàn có thể nêu ranhận định đơn cử, thuyết phục. Đây cũng là điểm riêng làm nên độ khó nhất địnhcủa kiểu bài nghị luận một tác phẩm hay đoạn trích văn xuôi so với nghị luận vềmột đoạn thơ, bài thơ. – Nếu đề bài trích dẫn cả đoạn văn ngắn cần nghiên cứu và phân tích, học viên phải biết vậndụng hiểu biết tác phẩm, tác giả để đọc ra được nội dung của đoạn thông quacách kể chuyện, cách sử dụng cụ thể, cách kiến thiết xây dựng nhân vật, các giải pháp tutừ, … Nhất thiết phải đặt đoạn văn trong chỉnh thể tác phẩm mới có những đánhgiá xác đáng về giá trị nội dung và nghệ thuật và thẩm mỹ của đoạn trích. 4. Nghị luận về yếu tố xã hội đặt ra trong tác phẩm văn họca. Các dạng bài nghị luận về yếu tố xã hội đặt ra trong tác phẩm văn họcCác yếu tố có ý nghĩa được đưa ra trong tác phẩm văn học được đưa ra từ hainguồn chính : – Từ các tác phẩm văn học đã được học trong chương trình. – Từ các mẩu truyện nhỏ hoặc những văn bản ngắn gọn học viên hoàn toàn có thể chưađược học nhưng tương đối dễ đảm nhiệm. Ví dụ : Đề 1. Triết lí vê việc đỗ, trượt trong thi tuyển của phụ vương Đặng Huy Trứ ( văn bảnCha tôi trong Ngữ văn 11 Nâng cao ) gợi cho anh chị tâm lý gì về việc thi cửcủa bản thân ? Đề 2. Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, nhân vậtTrương Ba nói : “ Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôimuốn được là tôi toàn vẹn ”. Câu nói trên để lại cho anh ( chị ) những tâm lý gì ? Đề 3. Từ bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến, nghĩ về danh và thực trong xãhội tất cả chúng ta thời nay. Đề 4. Bài thơ Tôi yêu em của Pu-skin và những tâm lý của anh ( chị ) về mộttình yêu tuyệt đẹp. Đề 5. Suy nghĩ của anh ( chị ) từ câu truyện sau : Anh dừng lại tiệm bán hoa để gửi hoa Tặng Kèm mẹ qua đường bưu điện. Mẹ anhsống cách chỗ anh khoảng chừng 300 kilomet. Khi bước ra khỏi xe anh thấy một bé gáiđang đứng khóc trên vỉa hè. Anh đến và hỏi nó sao lại khóc. – Cháu muốn mua một bông hoa hồng để khuyến mãi ngay mẹ cháu – nó khóc nức nở – nhưng cháu chỉ có bảy mươi lăm xu trong khi giá hoa hồng lên đến hai đô la. Anh mỉm cười và nói với nó : – Đến đây, chú sẽ mua cho cháu. Anh liền mua hoa cho cô bé và đặt một bó hồng để gửi cho mẹ anh. Xong xuôi, anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không. Nó vui mừng nhìn anh và vấn đáp : – Dạ, chú cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu. Rồi nó chỉ đường cho anh lái xe đến một nghĩa trang, nơi có một phần mộ vừamới đắp. Nó chỉ ngôi mộ và nói : – Đây là nhà của mẹ cháu. Nói xong nó ân cần đặt nhánh hoa hồng lên mộ. Tức thì anh quay lại tiệm bán hoa hủy bỏ dịch vụ mua hoa vừa qua và mua mộtbó hoa hồng thật đẹp. Suốt đêm đó, anh đã lái một mạch 300 kilomet về nhà mẹanh để trao tận nơi bà bó hoa. Để làm tốt dạng bài này, học viên trước hết phải đọc kĩ văn bản, xác lập đúngvấn đề nghị luận, từ đó vận dụng kỹ năng và kiến thức và sự hiểu biết về đời sống xã hội, những kinh nghiệm tay nghề và sự thưởng thức của chinh bản thân để làm bài. Bài viết cóthể được lập với hai hầu hết : – Nêu và nghiên cứu và phân tích ngắn gọn yếu tố được đặt ra trong tác phẩm. – Phát biểu nhứng tâm lý và tình cảm của mình về yếu tố đó nhân đọc tácphẩm. b. Cách lập dàn ýĐảm bảo bố cục tổng quan 3 phần : – Mở bài : + Giới thiệu tác giả, tác phẩm có vấn đề nghị luận. + Giới thiệu yếu tố được đưa ra bàn luận. – Thân bài : + Nêu yếu tố được đặt ra trong tác phẩm văn học, phần này người viết phải vậndụng kĩ năng đọc – hiểu văn bản để vấn đáp các câu hỏi : Vấn đề đó là gì ? Đượcthể hiện như thế nào trong tác phẩm ? Cần nhớ, tác phẩm văn học chỉ là cái cớđể nhân quan điểm đó mà luận bàn, nghị luận về yếu tố xã hội, do đó không nên điquá sâu vào việc nghiên cứu và phân tích tác phẩm mà đa phần rút ra ý nghĩa khái quát để bànbạc yếu tố có ý nghĩa xã hội. + Từ yếu tố được rút ra, người viết triển khai làm bài nghị luận xã hội, nêunhững tâm lý của bản thân mình về yếu tố ấy. Học sinh nên tìm hiểu thêm lạicách thức làm bài nghị luận xã hội ( về tư tưởng đạo lí, về một hiện tượng kỳ lạ củađời sống ) để làm tốt phần này. – Kết bài : + Khẳng định ý nghĩa của yếu tố trong việc tạo nên giá trị của tác phẩm. + Từ yếu tố được bàn luận rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân. B. NGHỊ LUẬN XÃ HỘII. Các dạng bài văn nghị luận xã hội và thao tác làm một bào văn nghị luậnxã hội1. Các dạng bài văn nghị luận xã hội – NLXH thường là những yếu tố rất rộng của đời sống, học viên lại thiếu hiểubiết xã hội, nên không có vốn để viết. – NLXH hay có những câu danh ngôn, định nghĩa, khái niệm, nên chúng thườngrất trừu tượng, học viên sẽ gặp khó khăn vất vả khi phải hiểu, phải lý giải được ý nghĩacủa nó, ngay từ trong bước đầu đã vướng phải những yếu tố ” khó nuốt ” như vậyhuống hồ phải tiến hành thành bài văn với mạng lưới hệ thống ý ngặt nghèo, kín kẽ, thuyếtphục – NLXH cần ở học sinh sự linh động trong nhận thức yếu tố, và từ nhận thức điđến trình diễn cái hiểu là cả 1 quy trình, để vận dụng và diễn đạt những cái mìnhhiểu đâu phải chuyện thuận tiện gì với nhiều học viên. Chính vì vậy nhiều em đã dở khóc dở cười với văn NLXH, trong khi áp lực đè nén củathi cử và các bài kiểm tra luôn đè nặng lên các em. Thực ra, ở Trung Quốc vànhiều nước phương Tây đã có những đề mở này từ rất lâu và vận dụng trong kỳthi tốt nghiệp và ĐH. Nên việc các em phải tập làm quen với văn nghị luận XH là1 nhu yếu thiết yếu, và các em phải tập với hình thức tư duy của dạng đề này. * Khi phát hiện 1 đề NLXH, các em phải tự đặt ra cho mình 2 câu hỏi và phảitự vấn đáp 2 câu hỏi ấy : 1 / Đề nhu yếu nội dung nghị luận về chủ đề gì ? 2 / Thao tác nghị luận chính dùng để nghị luận trong quy trình viết để đáp ứngyêu cầu của đề là gì ? * Các chủ đề quen thuộc của văn nghị luận XH : – Đạo dức – nhân sinh. – Tư tưởng văn hoá. – Lịch sử. – Kinh tế. – Chính trị. – Địa lý, thiên nhiên và môi trường. * Các thao tác chính hay dùng : Chứng minh, Giải thích, Bình luận. => Đề ra thường vừa nhu yếu về kỹ năng và kiến thức ( nằm ở các chủ đề khác nhau ), vừayêu cầu về kĩ năng ( nằm ở các thao tác nhu yếu cần triển khai ). Nên các em vừaphải chịu học để bổ trợ kiến thức và kỹ năng cho đa dạng chủng loại, vừa phải rèn luyện các kĩnăng để thực thi thao tác nghị luận cho đúng giải pháp. – Về mặt kiến thức và kỹ năng, buộc các em phải tự trang bị, vì không có 1 loại biện phápvạn năng giúp nhét kiến thức và kỹ năng vào đầu các em, mà đó phải là 1 quy trình tích luỹdần dần, đồng thời phải có ý thức học kiến thức và kỹ năng trên nhà trường 1 cách rất đầy đủ. Ở đây, tất cả chúng ta chỉ hoàn toàn có thể bàn về nhu yếu chiêu thức. Đề bài thường nhu yếu các em phải làm theo 1 thao tác hầu hết : lý giải, chứng tỏ hay phản hồi. 2. Các thao tác của một bài văn NLXH2. 1. Giải thích : + Yêu cầu đặt ra : Đi sâu vào những phát ngôn rất súc tích để khám phá và lý giải nội dung ý nghĩabên trong. Tức là ta phải làm sáng tỏ, giảng giải, bóc tách yếu tố cho người đọchiểu được thấu đáo cái đang được đề cập khi chúng còn đang mơ hồ. + Công việc đơn cử : Để làm sáng tỏ yếu tố, ta phải đi vào lý giải từ ngữ, điển tích, khái niệm, đi vàonghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hẹp, nghĩa lan rộng ra, đi vào những cách nói tế nhịbóng bẩy để hiểu được đến nơi đến chốn điều người ta muốn và cái lẽ khiếnngười ta nói như vậy. Trong thao tác lý giải, ta vừa dùng lý lẽ để nghiên cứu và phân tích, lý giải là đa phần ; vừadùng dẫn chứng để làm sáng tỏ yếu tố, xác lập 1 cách hiểu đúng đắn, sâu sắccó tính biện chứng nhằm mục đích chống lại cách hiểu sai, hiểu không rất đầy đủ, không hếtý. Bước kết thúc của thao tác lý giải là rút ra điều tất cả chúng ta cần vận dụng khi đãtìm hiểu được chân lý. Phương hướng để vận dụng những chân lý này vào cuộcsống hàng ngày, tuỳ theo cho thành viên hay cho hội đồng mà có hướng vận dụngphù hợp, và mỗi tất cả chúng ta phải như thế nào ? => Từ những điều nói trên, ta rút ra 1 sơ đồ tổng quát theo 3 bước : – Làm sáng tỏ điều mà người ta muốn nói. ( lý giải ) – Trả lời vì sao người ta đã nói như vậy ? ( tại sao ? ) – Từ chân lý được nói lên, rút ra bài học kinh nghiệm gì trong thực tiễn ? ( để làm gì ) 2.2. Chứng minh : + Yêu cầu đặt ra : Làm sáng tỏ chân lý bằng các dẫn chứng và lý lẽ. Khi ta đã gật đầu cái chânlý bộc lộ trong 1 phát ngôn nào đó, trách nhiệm là ta sẽ phải thuyết phục ngườikhác cũng gật đầu như mình = những dẫn chứng rút ra từ thực tiễn cuộc sốngxưa và nay, từ lịc sử, từ văn học ( nếu đề nhu yếu ) và kèm theo dẫn chứng lànhững lý lẽ dẫn dắt, nghiên cứu và phân tích tạo ra lập luận vững chãi, mang đến niềm tin chongười đọc. + Công việc đơn cử : Bước tiên phong là phải khám phá điều cần phải chứng tỏ, không những chỉ bảnthân mình hiểu, mà còn phải làm cho người khác thống nhất, ưng ý với mìnhcách hiểu đúng nhất. Tiếp theo là việc lựa chọn dẫn chứng. Từ trong thực tiễn đời sống to lớn, tư liệu lịchsử rất phong phú và đa dạng, ta phải tìm và lựa chọn từ trong đó những dẫn chứng xác đángnhất, tiêu biểu vượt trội, tổng lực nhất ( nên chỉ cần vài ba cái để làm sáng tỏ điều cầnCM ). Dẫn chứng phải thật sát với điều đang muốn làm sáng tỏ và kèm theo dẫnchứng phải có lý lẽ nghiên cứu và phân tích – chỉ ra những nét, những điểm ta cần làm nổi bậttrong các dẫn chứng kia. Để dẫn chứng và lý lẽ có sức thuyết phục cao, ta phảisắp xếp chúng -> 1 mạng lưới hệ thống mạc lạc và ngặt nghèo : theo trình tự thời hạn, khônggian, từ xưa đến nay, từ xa đến gần, từ ngoài vào trong hoặc ngược lại miễnsao hợp logic. Bước kết thúc vẫn là bước vận dụng, đặt yếu tố vào thực tiễn đời sống hômnay để yêu cầu phương hướng nỗ lực. Chân lý chỉ giá trị khi soi rọi cho ta sống, thao tác tốt hơn. Ta cần tránh công thức và rút ra Tóm lại cho thoả đáng, thíchhợp với từng người, thực trạng, vấn đề. => Từ những điều nói trên, ta rút ra 1 sơ đồ tổng quát theo 3 bước : – Làm rõ điều cần chứng tỏ trong luận đề được nêu lên. – Lần lượt đưa ra các dẫn chứng và lý lẽ để làm sáng tỏ điều cần chứng tỏ. – Rút ra Tóm lại về phương hướng nỗ lực. 2.3. Bình luận : Đây là thao tác có tính tổng hợp vì nó bao hàm cả việc làm lý giải lẫn chứngminh. Nên những nhu yếu của lý giải và chứng tỏ cũng là nhu yếu đối vớivăn phản hồi, nhưng lý giải và chứng tỏ sẽ được viết cô đọng, ngắn gọnhơn so với chỉ 1 thao tác chứng tỏ hoặc lý giải để tập trung chuyên sâu cho phần việcquan trọng nhất là phản hồi – phần lan rộng ra yếu tố. Trước khi phản hồi, ta thường phải bày tỏ thái độ, để khách quan và tránh phiếndiện, ta phải xem xét kĩ luận đề để từ đó có thái độ đúng đắn, có 3 năng lực : – Hoàn toàn nhất trí. – Chỉ nhất trí một phần. ( có số lượng giới hạn, có điều kiện kèm theo ) – Không gật đầu. ( bác bỏ ) Sau đó, ta phản hồi – lan rộng ra lời bàn để yếu tố được nhìn nhận sâu hơn, toàndiện hơn, triệt để hơn. Cuối cùng, ta lại chỉ ra phương hướng vận dụng để đưa lý luận vào áp dụngthực tế đời sống. => Bố cục của một bài văn phản hồi gồm : – Mở bài : Dẫn dắt, ra mắt luận đề. – Thân bài : + Xác định ý nghĩa cơ bản của luận đề. ( ý nghĩa ) + Bày tỏ thái độ của tất cả chúng ta trên những nét bao quát nhất. ( nhìn nhận ) + Trình bày nội dung cơ bản : phản hồi. ( lan rộng ra, bổ trợ lời bàn ) – Kết bài : Kết thúc luận đề ( rút ra Kết luận thực tiễn ). > Khi làm bài phản hồi, tất cả chúng ta phải rất linh động, tránh cái nhìn phiến diện 1 chiều, và không bị sa bẫy vào những câu nói nghe có vẻ như tưởng chừng đúngnhưng lại còn sống sót những cách hiểu xô lệch, chưa đúng đắn. Bằng vốn trithức, vốn sống của bản thân ta tìm ra cách hiểu đúng đắn nhất, rồi từ đó bằnglập luận, lý lẽ và dẫn chứng, ta hấp dẫn mọi người đồng ý chấp thuận, ưng ý với cáchđánh giá, lời bàn của ta 1 cách bị chinh phục. II. Một số dạng bài nghị luận xã hội phổ cập và cách lập dàn ý * * * NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÝ1. Khái niệm, đề tài, nhu yếu và các thao tác chính : a ) Khái niệmNghị luận về một tư tưởng đạo lí là quy trình phối hợp những thao tác lập luận đểlàm rõ những yếu tố tư tưởng đạo lí trong cuộc sống. b ) Đề tàiĐề tài của nghị luận về tư tưởng, đạo lí là vô cùng nhiều mẫu mã, gồm có : – Các yếu tố về nhận thức như lí tưởng, mục tiêu sống, … – Các yếu tố về tâm hồn, tính cách như : + Lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, bao dung, độ lượng, … + Tính trung thực, gan góc, siêng năng, siêng năng, thái độ hòa nhã, nhã nhặn, … + Thói ích kỉ, chém gió, vụ lợi, – Về các quan hệ mái ấm gia đình như tình mẫu tử, bạn bè, – Về quan hệ xã hội như tình đồng bào, tình thầy trò, bè bạn, … – Về cách ứng xử, những hành vi của mỗi người trong đời sống. c ) Yêu cầu – Hiểu được yếu tố cần nghị luận qua nghiên cứu và phân tích, lý giải để xác lập vấn đè – Phân tích, chứng tỏ những biểu lộ đơn cử của yếu tố, thậm chí còn so sánh, tranh luận, bãi bỏ, … nghĩa là biết vận dụng nhiều thao tác lập luận. – Phải biết rút ra ý nghĩa của yếu tố. – Người thực thi nghị luận phải có lí tưởng và đạo lí. d ) Các thao tác lập luận cơ bảnCác thao tác lập luận cơ bản thường được sử dụng trong kiểu bài này là giảithích, nghiên cứu và phân tích, chứng tỏ, so sánh, bác bỏ, phản hồi. 2. Cách làm bàia ) Mở bài – Giới thiệu yếu tố được đưa ra phản hồi. – Nêu luận đề : dẫn nguyên văn câu danh ngôn hoặc nội dung bao trùm của danhngôn. – Giới hạn nội dung và thao tác nghị luận sẽ tiến hành. b ) Thân bài – Giải thích tư tưởng, đạo lí cần nghị luận ( nêu các góc nhìn nội dung của tưtưởng, đạo lí này ). – Phân tích, chứng tỏ, phản hồi các góc nhìn ; bác bỏ, phê phán những sailệch ( nếu có ). – Khẳng định chung, nêu ý nghĩa, liên hệ trong thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm nhận thức vàhành động. – Lấy dẫn chứng minh họa ( ngắn gọn, tiêu biểu vượt trội, dễ hiểu ). c ) Kết bàiTóm tắt các ý, nhấn mạnh vấn đề luận đề đã nêu ở đầu bài nhằm mục đích chốt lại bài viết hoặcdẫn thơ, văn để lan rộng ra, gợi ý thêm cho người đọc về yếu tố đang bàn luận. 3. Tổng kếtMuốn làm bài văn

Như vậy cachlam.org đã chia sẻ với bạn bài viết Cách làm bài văn nghị luận văn học và nghị luận xã hội – Tài liệu text. Hy vọng bạn đã có được 1 cách làm hay và chúc bạn có được nhiều thành công trong cuộc sống hơn nữa!

Xem thêm các hướng dẫn và mẹo vặt hay: https://cachlam.org/huong-dan

Cách làm thú vị khác
Toán lớp 5 trang 43 Luyện tập – https://cachlam.org

Toán lớp 5 trang 43 Luyện tập chung Đọc các số thập phân sau đây. Viết số thập phân có Read more

2 cách làm tinh dầu bưởi tại nhà, cách bảo quản tinh dầu bưởi đúng cách

Với các thành phần dưỡng chất lớn gồm có Pectin, Naringin, vitamin A, C …, vỏ bưởi có tính năng Read more

Toán lớp 5 trang 175 Luyện tập chung – https://cachlam.org

Toán lớp 5 trang 176 Luyện tập chung Tính. Trong ba ngày một shop bán được 2400 kg đường. Ngày Read more

Hướng dẫn cách làm tinh dầu cam nguyên chất tại nhà

Tinh dầu cam nguyên chất đem đến những tính năng và quyền lợi hiệu suất cao, cách làm chúng thế Read more

Mách chị em cách làm tỏi đen – thần dược chữa bệnh tại nhà bằng nồi cơm điện cực đơn giản – ALONGWALKER

Thông thường nếu tất cả chúng ta mua tỏi đen đã được làm sẵn sẽ có giá cả khá cao. Read more

Cách làm tinh dầu chanh nguyên chất đơn giản tại nhà

Có khi nào bạn nghĩ sẽ tự làm cho mình một lọ tinh dầu chanh. Với các nguyên vật liệu Read more

Cách làm thạch trà sữa củ năng dai giòn tại nhà

Trà sữa là một hình thức kinh doanh thương mại chưa khi nào là hết thời, người người, nhà nhà Read more

Hoa hồi làm mồi câu cá cực nhạy – bách phát bách trúng

Hoa hồi làm mồi câu cá cực nhạy – bách phát bách trúng Tháng Hai 24, 2021 Hoa hồi làm Read more

Powered by truyenhayvn.com

DMCA.com Protection Status